Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

Truyện ngắn: Lão mai mộng ký



            Với Thuần, thì dãy núi có nàng Vọng Phu ẵm con ngóng chồng hóa đá, có điều gì cứ ám ảnh anh suốt mấy năm nay. Chả là, trong lần lang thang lục sục tìm cây canh- một thứ đam mê và cũng là một việc kiếm thêm tiền mua thêm cây. Thêm chậu mà khỏi cần phải xén vào mấy đồng lương còm cõi, xứng với những việc làm làng nhàng mà một công chức nhì nhằng như anh được hưởng- chẳng hiểu sao, anh lại phăm phăm một mình len lõi, luồn lách leo lút lên một ngọn núi chỉ có đá chồng đá, chất ngất. Đá chất chồng không đều, tạo nên những hang hốc hun hút., cây cối rậm rì, chen chúc với đá. Thuần nghĩ mệt trên một thớt đá rộng đến năm bảy người nhìn nối tay nhau vẫn thừa. Anh thoải mái ngắm nhìn trời mây bảng lảng, lâng lâng dõi theo từng chân núi lô xô chạy ùa ra đùa với lớp lớp sóng biển, và biển cũng đáp lại bằng những nụ hôn vỗ về trắng xoá, bất tận.
            Rồi như có một linh cảm kì diệu nào chẳng rõ, Thuần ngoảnh về phía trái. Tức thì lọt ngay vào mắt anh một dang thân cây “đổ” giữa khoảng trống hai tảng đá, ngọn ngóc lên trong rất có “thế”. Thuần bật dậy, không quên dè chừng một vực đá rộng chừng hai sải tay, sâu hoắm, ngăn cách thớt đá anh đứng với dáng cây vừa thấy. Toát cả mồ hôi hột…Thuần mới lò dò vượt qua bên kia vực.Anh mới bàng hoàng khi thấy cành thưa thớt vài bông hoa cuối mùa màu trắng ngọc. Phải leo lên một tảng đá nữa,Thuần mới lần ra gốc cây sần sì, già cỗi. “ Tuyệt quá! Bạch mai!”. Anh reo lên, tiếng dội vào vách đá âm âm. Cẩn trọng gấp đôi lúc thường, Thuần moi từng lớp đất, cố bứng nguyên bộ rễ. Bỗng lộ dần dưới tay anh một mảnh sứ màu lam ngọc. Ôi trời! không phaỉ một mảnh mà nguyên cả một chậu men cổ, chấm phá cảnh sơn khê, với nhành mai gầy guộc và những dòng chữ Hán lả tả rơi như những cành hoa trước làn gió xuân đùa cợt.
            Một cây mai thế cổ thụ, trồng trong chậu men cổ, dễ thời ngót trên trăm tuổi là ít.Thật quý giá, thật kỳ bí!
            Năm đầu, cho mãi đến cuối giêng, chậu mai già mới nở lác đác trong vườn cảnh nhà Thuần.
            Năm sau, những phút giao thừa như có ma lực, làm nẩy dần từng chút một, cho đến giây cuối cùng thì cũng vừa vặn khai nở hoa đầu tiên. Mồng hai Tết nở thêm hai hoa. Cứ thế…đến khi khai hạ thì bông hoa cuối cùng cũng sắp tàn phai. Giới chơi đồ cổ, cây thế ngày nào cũng lai vãng, người sành điệu thâm trầm thưởng lãm, kẻ có dụng ý mua bán lại vờ vịt chê bai nhưng ngấm ngầm khơi gợi mua cho bằng được với giá hời nhất. Chẳng mấy chốc giá cây và chậu cứ leo vùn vụt. Đến nổi vợ Thuần phải nổi quạu, vì cứ thấy chồng lắc đầu cười trừ trước những cọc tiền mà một vài trùm bon-sai dúi vào tận tay.
            Nhưng rồi…Chậu bạch mai đẹp lạ lùng và kỳ bí ấy vẫn cứ rời anh như một định mệnh. Đổi lại nụ cười trở lại trên môi đứa con gái Thuần chẳng may bị bệnh hiểm nghèo, nếu như không có món tiền mà một trùm bon-sai sốt sắng, lẹ tay ấn vào tay vợ Thuần.
            …Năm nay, đúng ngày tiết Thanh minh, Thuần lại nhằm hướng núi ấy leo lên.Gần hết buổi sáng loanh hoanh, nghiêng ngó sục tìm, đến trưa anh mới đến đúng thớt đá năm nào nhìn thấy cây bạch mai. Thuần với chiếc gùi đặt trên đá. Cả buổi sáng chẳng đến nỗi công cốc: dù sao trong gùi cũng có vài cây ưng ý vừa sam, cần thăng, bằng lăng và nhất là một cội ngâu già cằn cỗi.
            Nắng nhợt nhạt, thinh không lành lạnh. Núi và biển bớt nô đùa nhưng lại đằm thắm, nồng nàn hơn ngày nào. Thuần ngó xuống phía đồng bằng, cảnh vật lờ mờ, u uẩn.
            Nuốt xong lát cơm chấm muối vừng cuối cùng, tu mấy ngụm nước, Thuần chụp cái mũ vải lên mặt, định bụng ngủ một giấc.
            Dường như lúc này khói mây bảng lảng, nắng luễnh loãng và chợt sơn khê trầm lắng, Thuần lơ mơ nghe như tiếng ngâm nga: “Ngẫu lai tùng thụ hạ. Cao trẩm thạch đầu miên, Sơn trung vô lịch nhật. Hàn tận bất tri niên” (*) . Rồi nửa mơ, nửa tỉnh, Thuần nghe như là tiếng gọi.
            “Cố nhân!”. “Ai đó? Phải gọi tôi không?”. Như là mừng rỡ: “Ta là bạch mai già cỗi mà cố nhân tương ngộ mười năm trước…”. “Ôi, là…bạch mai…ấy ư?”. Như có gì man mác: “ Đúng rồi! Cố nhân quả chưa quên! Có điều…Cố nhân có biết…nay ta đã về với cát bụi…”. “…Có nghĩa là…!”. Như là tiếng cười khà: “Cả đời phiêu bạt, chứng kiến bao bể dâu, tan hợp…Kể ra cũng đủ lắm rồi…”.
            Lặng đi như có một uẩn khúc: “ Muốn nhờ cố nhân một việc…Chẳng hay?”. “Thưa! Dù khó đến mấy… xin vẫn được nhận”. Như có cái gì hiền từ, độ lượng: “ Chớ vội vàng hứa khi chưa biết việc nhận làm như thế nào…”. “ Thưa…”. Lặng một lát, lại hỏi: “Có điều gì ám ảnh cố nhân?” Tuần vội xổ lòng:“Lão mai ơi! Mười năm nay… lúc nào trong lòng kẻ hèn mạt này cũng ám ảnh, nuối tiếc. Bởi vì…cái đẹp diệu kì biết có ngày nào tương ngộ một khi đánh mất " . Như có khoảng lặng trầm tư: “ Cố nhân muốn biết những gì thuộc về ta ư?”. “Thưa vâng!”. “Chỉ ngại cố nhân không muốn nghe…!”. “Dù có phải nhọc nhằn tìm kiếm khắp núi rừng này một khi tin rằng sẽ có cái đẹp luẩn quẩn đâu đó, huống chi chỉ có một cái việc nghe để giải đi nỗi ám ảnh, dằn vặt trong lòng…”. “ Thế thì được! Được đấy!”.
            Mộng thực hay chỉ là tâm tưởng? Thật khó mà phân biệt trong bảng lảng khói mây, trong chút gió xao lá mơ hồ dệt nên câu chuyện…
2
            Sau những ngày hoan lạc dưới ánh nắng ấm áp và làn gió xuân hây hẩy, có một chiếc hạt từ cội mai già hàng trăm năm, trăm tuổi rụng xuống triền dốc núi. Một cơn mưa nhỏ cũng đủ cuốn chiếc hạt căn mẩy, đen chín mong, đọng lại trong một cái hốc, rồi bùn đất lấp lên một lớp mỏng.Nắng mỗi ngày thêm ấm và đêm về cũng bớt đi rét mướt để không lâu chiếc lá cựa quậy nảy mầm, rồi nhú lên khỏi mặt đất, đón lấy tia nắng ban mai đầu tiên. Như muôn loài cây cỏ khác, từ chiếc hạt ấy, ta đã chào đời và cũng tìm cho mình một chỗ dưới ánh mặt trời rực rỡ.
Mùa lại mùa trôi qua; hết nắng hết mưa, rét tàn nhường cho cái nóng đến quắt queo cả núi đồi. Mặc, ta lớn lên, từng chút từng chút một.
            Một đêm gió mưa dữ dội, nước cuốn phăng phăng bao đất đá từ trên cao ào ào ập xuống. khủng khiếp hơn, đất dưới chân ta bỗng rùng rục nức toác ra, thành một vực sâu hoắm. Ta bật gốc chỏng chơ, ngọn lộn cắm xuống đáy vực. Đằng đẳng gồng mình chịu đựng mọi thứ khắc nghiệt, thế rồi ta cũng “qua” được …à, bây giờ, con người nói chữ như thế nào?”. “Thưa! Là…là “tồn tại! ". "À  , ta tồn tại…”.
            …Không biết bao nhiêu mùa trôi qua, trên sườn núi xa xôi, cây bạch mai vẫn đổ lả thân xuống vực nhưng ngọn thì cứng cỏi vươn lên.
            Ngày ấy…cũng giống như ngày tương ngộ cố nhân mười năm trước…
            Lúc ấy vãng chiều…
            Liêu xiêu rồi chỉ còn vương vấn vài sợi nắng vãi trên chỏm núi. Lạ lùng sao có tiếng gì vừa cất lên. Chẳng phải nhộn nhạo líu lo, ríu rít của loài chim; tiếng rỉ rả, nỉ non trong đất, trong lùm cây, bụi cỏ của dế, ve sầu; hoặc tiếng hú gọi bầy, tiếng tác tìm bạn cùng những con thú đêm đêm… Tiếng của con người! Cây cỏ quanh ta rầm rì bảo nhau “ Ôi! Quan Chánh sứ ơi! Một cội mai trắng đang nở kìa! Đẹp làm sao!”. Giọng người trẻ xuýt xoa. “Đâu nào! À! Đẹp! Quả là đẹp!”. người vừa đáp có mái đầu tưởng như vừa được những cánh hoa trắng rơi phủ kín, ánh mắt buồn buồn chợt nảy lên: “ Ngày mai rời xa nước mà gặp mai nở giữa chốn biên ải này, thật là điểm tốt! Điềm tốt!”. “Thưa…đúng thế…bẩm quan…”. Người già mỉm cười rồi ôn tồn nói: “Cùng vãn cảnh, thưởng lãm cái đẹp tất ngươi phải xung tụng phẩm hạnh chi cho nhọc!...”. Người trẻ cúi đầu nhỏ nhẹ: “Con tập bẩm trình cho quen miệng với chức vị của thầy vừa được ban cử …”. “ Thôi! Hãy để đầu nhẹ nhõm mà thưởng ngoạn…” Người trẻ vâng dạ, rồi say sưa ngắm từ cánh hoa mỏng manh cho đến những chiếc rễ cội mai lồi lên sườn núi đá khô cằn. Những ngón tay của chàng trai trẻ khẽ mân mê lớp vỏ sần sùi, lần theo dáng đổ, miệng không ngớt trầm trồ. “Thầy ạ! Cái hố lở này chỉ liếm thêm ngang tay nữa thì cội mai bị vùi lấp lâu rồi ạ!” . “ Ngươi cứ quen “ giả như, giả như”… Sao không nghĩ : chính nhờ cái hố này cội mai đã có được dáng thế tuyệt đẹp này!”. “Thưa…Quả thầy dạy chí lí!”.
            Rồi những sợi nắng vãi trên chỏm núi cũng bay biến mất, để nhường chỗ cho tấm khăn voan mỏng mảnh sắp choàng lên. Người già chợt hỏi: “ Ngươi định mang cội mai về kinh sư à?”. “ Chàng trai trẻ vội đáp: “ Thưa…con cũng có ý như thế thật! Chẳng có gì qua được mắt thầy!...” Người già cười: “ Ta còn đoán ra… ngươi còn đem cội mai tặng   cho nàng tiểu thư họ Phạm nữa kia!...”. Chàng trai đỏ mặt, bối rối. “Thưa…đúng ạ!”. “ Ta nghe nói…Phó Lãnh binh họ Trần cũng ngắm nghé có ý dạm hỏi Phạm tiểu thư?”. “Con…cũng có biết ạ!”. “ Chà! Gay thật! Gay thật! Không khéo giữa ngươi với Phó Lãnh binh họ Trần kia…”. Người già bỏ dở câu nói, trầm ngâm một lát rồi bảo: “ Được ngắm mai nở trong giá rét chốn biên cương hiu quạnh dù sao cũng thích hơn chốn viên gia…Nhưng để có món gì tặng cho Phạm tiểu thư thì ngươi cứ bứng mà mang về!...”. Chàng trai trẻ hớn hở: “Con sẽ làm theo ý thầy!”… Người già ngẫm nghĩ một điều gì đó, rồi nói: “À, chuyến này đi…cố ghé qua Giang Tây. Một cái chậu men Giang tây sẽ tôn cội mai lên bội phần!”. “Trời! Thế thì còn gì bằng! Thưa… con có ý thô thiển này nữa… Trình thầy có được không ạ?”. “Thì cứ nói…”. “Thầy ạ! Trên cái chậu ấy mà có bút tích thi họa đề tặng của thầy…” Người già bật cười: “ Ta hiểu ý ngươi…Nhưng việc đó chính tay ngươi làm mới đủ tình đạt ý!”… “Chính tay con làm ư?!”…
*
                                                                                    *      *
            Khỏi phải nói…ta đau đớn biết nhường nào khi gốc rễ bị đào tróc khỏi núi non, mây gió miền biên ải, nhét vào một cái chậu chật hẹp, tù túng. Nhưng rồi ta cũng bớt chạnh lòng khi được thầy trò chăm chút, nâng niu từng chiếc lá non vừa thay. Ròng rã nửa năm ,trăng tròn lại khuyết, đoàn người đi sứ mới về đến kinh đô. Chàng trai trẻ đem ta về nơi góc vườn tĩnh lặng . Nơi đây chẳng thấy đâu núi non trùng điệp , chỉ thấp thoáng xa xa là dòng sông lững lờ và xa chút nữa hiện lên thành quách, đền đài.
            Rối thêm mấy mùa trăng tròn lại khuyết, một bữa, chàng trai đem ta đến một hoa viên có biết bao kỳ hoa dị thảo, có hồ nước trong leo lẻo, chim hót líu lo. Thướt tha,e lệ có một người con gái cùng sánh đôi với chàng trai đến gần ta: “ Chàng nói…cội mai này mang từ ải Bắc về tặng thiếp?”. “Vâng! Tiểu thư đừng chối từ đấy”. “ Ôi! Thiếp có gì xứng đáng đâu mà được chàng tặng cội mai quý?”. “ Những gì đẹp nhất ẩn chứa trong cội mai này đều xứng hết!”. “Chàng quá khen! À, hình như thủ bút…lại cả tranh vẽ nữa…của chàng à?!”. “Cũng nhờ thầy gọi…nên ta mạnh dạn thử trước khi nung…Hôm ở Giang Tô ấy mà!...” Ánh mắt tiểu thư lộ vẻ chăm chú khi đọc những dòng chữ lả tả như hoa rơi: “ Chàng…chàng…bốc thiếp lên cao hơn cả trời xanh?! Không! Thế này là không ổn…Không ổn”. “Ta nghĩ sao ghi vậy! Có gì là không ổn?”. Nét mặt người con gái xúc động: “ Thiếp…như chàng biết…bao năm rồi…rất thương…rất quí…chàng! Nhưng…cũng lo ngày, lo đem tính khí của chàng…sẽ có lúc gây cho chàng nhiều phiền lụy!”. “Nàng quá lo xa!”. “Nhưng…giả như chàng đánh mất đi cái dáng ngẩn cao đầu như cội mai này thì thiếp…thiếp…”. Chàng trai sững sờ hỏi: “… Thì nàng…?”. “…Thì trong lòng thiếp sẽ phai nhạt dần bóng của chàng!”. “Ôi! Tiểu thư!”…
            …Trước khi ra về, chàng se sẽ mân mê vài chiếc lá non còn mềm lả, rồi nói: “Từ nay…lão mai bầu bạn với tiểu thư! Tiểu thư sẽ chăm chút lão mai gấp mấy lần ta! Ấy, đừng sầu mà khô gầy, lìa xa nhân thế!”.
            Tiểu thư tiễn chàng theo lối quanh ra khỏi hoa viên… Kể từ buổi ấy…chẳng có ngày nào mà tiểu thư không đến ngắm ta, chuyện trò với ta vài lần…
            Một chiều… trong lúc miên man trong cõi mông lung, tiểu thư nào biết có một người đàn ông vừa đến.Chẳng phải chàng trai ấy đâu.Một tráng sĩ…
            “Tiểu thư! Phạm tiểu thư!”. “À! Xin chào! Phó Lãnh binh đến thăm tôi?”. “Có chút việc đã trình báo cho thân phụ nàng biết! Chuyện dân tình, giặc giã thôi mà…: Ôi! Tiểu thư đang ngắm cây à? Chà chà! Một chậu mai…Cho ta coi thử nào! Được! Có điều dáng cây ngang tàng, ngạo nghễ thái quá!Chậu có cả thi họa nữa kìa?! Lần trước đến , ta có thấy đâu!”. “Vâng! Có người vừa mang tặng!?. “Cho cụ Thượng?”. “Không! Cho riêng thiếp!”. Ánh mắt tráng sĩ chợt tối sầm. “Ra thế! Để ta xem người tặng viết gì? Hừ! Xa nước…nhớ da diết…nhớ ai? À, nhớ đàn bà, con gái, nhớ nàng…ái chà! Lòng trung quân ái quốc ở đâu mà chỉ rặt nhớ tới bóng hình phụ nữ …Lại nữa…mọi thứ đều chẳng có nghĩa lí gì nếu như không có…hả? Không có tiểu thư trong đời ta…Thế thì sơn hà xã tắc, Hoàng thượng, triều đình cũng đều vô nghĩa hay sao? Còn dòng này…ám chỉ gì đây…muốn làm vầng nhật nguyệt để…ủ ấm tiểu thư…Hà, muốn thay vua nữa đấy!”. Phạm tiểu thư kêu lên “ Quan Phó Lãnh binh! Không phải vậy đâu! Xin ngài chớ có nghĩ sai…”. Tráng sĩ bậc cười khô khốc: “ Tiểu thư đang dung chứa một cái mầm phản loạn này đấy!”. “Trời, ngài nói gì vậy!”. " Hứ !..." .   “Ngài…ngài Phó Lãnh binh! Đừng bốc lửa bỏ vào tay người…”.
            Tráng sĩ  đi xa rồi nhưng tiếng cười vẫn còn văng vẳng rờn rợn đâu đây...
*
*       *
            Thật buồn thương cho những ngày tháng kế tiếp. Ta gắng gượng, chống chọi với tiết trời, mưa nắng đất kinh sư. Chẳng biết việc lành, việc dữ gì xẩy ra mà tiểu thư sai người mang ta giấu biệt vào một vườn hoang cỏ rậm, cách gia viên không xa.Thi thoảng tiểu thư lại đến với gương mặt âu sầu. Có lần tiểu thư sụt sùi khóc, giọt lệ nóng hôi hổi rớt thấm lên mặt lá khiến ta khẽ rùng mình xót xa cho số phận của nàng.
            Một đêm ngâu ,ta chập chờn tắm mình trong làn mưa rỉ rích. Chợt có tiếng tiểu thư: “ Chàng ơi! Thiếp giấu chậu mai đây này!”. “Trời! Lão mai! Vì ta mà phận cỏ cây cũng cơ khổ theo…”. Lâu lắm ta mới đón nhận bàn tay chàng run run rờ lên thân, lên lá. Hai bóng người lặng lẽ ngồi bên , rồi ta nghe họ rì rầm… “Lúc nàng hỏi, vội quá chưa kịp đáp. Nàng biết không, ta bị lột tuốt tuồn tuột những chức vụ vốn nhỏ nhoi, chỉ còn là một tên lính thú dưới quyền cai quảngcủa Phó Lãnh binh họ Trần. Mấy tháng qua, Phó Lãnh binh được lệnh dẫn quân đi tiểu trừ đám giặc cướp sơn man. Lần nào cũng đẩy ta đi đầu , hứng chịu bao lần đá dội từ núi cao xuống, chông nhọn dưới đất hắt lên. Những việc cỏn con này đối với ta có sá gì…
            Cách đây ít hôm…Phó Lãnh binh dẫn quân vây đánh vào làng sơn cước, gông cổ mấy chục mống già trẻ, gái trai rồi gán bừa họ là giặc cỏ, phải giết sạch. Ta biết họ là dân lành vô tội, chẳng phải thảo khấu, nghịch tặc. Ta lên tiếng khuyên can. Phó Lãnh binh cười ngạo mạn, lệnh đích danh ta phải làm việc là giết hại từng người một, vào ngày hôm sau. Nửa đêm, ta lẻn vào, cắt bỏ dây trói, xua họ trốn sâu vào rừng núi. Rồi một mình, ta nhảy lên ngựa, ròng rã mười ngày, trốn chạy về được đến đây…” Tiểu thư nghẹn ngào: “Trời! Chàng ơi!”. “Gặp được tiểu thư … thế là ta mãn nguyện lắm rồi! Với triều đình, giờ đây ta là kẻ phản nghịch, khó tránh khỏi cái chết…”. “Chàng! Chàng đừng nói đến cái chết…Thiếp sợ…”.
            Lặng đi một lát, chàng khẽ nói: “Đối với tên bay, đạn lạc…ta nào có mảy may chớp mắt! Nhưng ta sợ thân phụ, rồi đến lượt nàng sẽ liên lụy…cũng may là nàng nhanh trí, giấu chậu mai…kẻ gian tà nhìn cái đẹp cũng hóa xấu…”. “Thiếp hiểu ý chàng lắm lắm! Lẽ nào…chàng lại tiếp tục bỏ thiếp trốn đi một mình mà không cho thiết cùng đi…”.
            Chàng trai nghiêm giọng: “Không!”. Tiểu thư òa khóc: “ Sống chết gì…thiếp cũng theo chàng!”. “Nín đi nào! Nếu cạn nghĩ theo ta thì chuyện ắt vỡ lỡ, kéo theo hai gia tộc cùng chết đấy…”.
            Vẫn rỉ rích tiếng mưa, vẫn rỉ rích tiếng dế trong vườn đêm rậm rịt. “Ta đem cả chậu mai này theo!”. “Không! Hãy để lại cho thiếp…!”. “Ta nghĩ kĩ rồi! nếu vứt bỏ thì không lòng nào! Để cho nàng chăm sóc thì chẳng khác nào rước cái họa lớn cho nàng!”.
            …Tiếng gà xao xác gáy đâu từ phía bên kia sông vọng lại. “ Chàng ơi! Hãy để…cho thiếp…”. “ Tiểu thư…”. “Chàng…”…
            Có tiếng người í ới gọi. Chàng trai bừng tỉnh: “ Tiểu thư! Ta…ta đi…!”. “Chàng ơi! Thiếp sẽ cố giữ…giọt máu của chàng…gửi cho thiếp!”.
3
            Trên yên ngựa và trong vòng tay chàng trai, ta lại tiếp tục dong ruổi trên bao dặm đường, đồng đất xa lạ, mờ mịt. Chàng tránh xa đường cái quan; tránh gặp con người, lẩn lút băng qua đèo cao, sông vắng. Trăng tròn lại khuyết, cho đến một ngày chàng mới dừng chân lại xứ này.
            “Bạch thầy! Xin bạch thầy cho con nương nhờ nơi cửa Phật!. Chốn trần hiện con gặp hoạn nạn…”. Chàng trai cung kính thưa với vị sư già trụ trì ngôi chùa cổ ẩn mình nơi lưng chừng núi. “Nam mô A Di Đà Phật! Cửa thiền luôn rộng mở cho bất kì ai, dù người đó mới vừa gây ra điều ác ngay ngoài cổng chùa…”. Chàng trai mừng rỡ: “ Lão mai ơi! Thế là từ nay…lão mai đã có chốn nương thân yên ổn rồi!”. “Thí chủ! Xin có lời khen…Cội mai thật trác tuyệt! Phải chăng…phiền lụy mang đến cho thí chủ có một phần do cội mai này…?”. “ Thưa! Bạch thầy đoán đúng…”.
            Và chàng đã kể ra những gì vừa trải qua…
            Từ ấy…ta được ở trong chùa tĩnh mịch, bầu bạn với lão tùng khắc khổ, mực thước; với lão đại sù sì, u nần mà thả hương thơm ngan ngát cả lưng chừng đồi, rồi còn rải xuống sân thảm hoa trắng vàng, đến nỗi tiếng chuông chùa cứ lẩn vẩn, chẳng muốn rời xa.
            Sau những khắc giờ tụng kinh, niệm Phật, chàng trai hăm hở làm mọi việc lặt vặt trong chùa, như cố ý quên một nỗi niềm sâu kín trong lòng. Thi thoảng chàng lại đến ngồi gần ta, khẽ thì thầm với ta những lời buồn thảm.
            “Lão mai ơi! Ta nhớ tiểu thư lắm lắm…Ta không biết chốn kinh kỳ…bây giờ nàng ra sao? Mong nàng…hãy chóng quên ta…Không biết bao giờ…nàng sẽ gặp lại lão mai…”. Chợt giọng chàng có vẻ vui ra chút ít: “À…, sư thầy có lời khen lão mai…nở hoa đúng Tết lắm đấy! Từ ải Bắc nghìn dặm lưu lạc đến đây…mà vẫn trổ hoa đẹp đến mức làm ngơ ngẩn cả bao khách vãn chùa...Đấy! Có người nấn ná cả buổi mà vẫn không chịu xuống núi…”. “ Mô Phật! Cái đẹp là phúc… nhưng cũng có khi là họa! Phúc họa..họa phúc thật khôn lường…”. “Bạch thầy…”.
            …Rồi cái ngày ấy…, cái ngày phúc đã biến thành họa. “Quan quân triều đình…hiện vây kín chân núi…con hãy trốn nhanh đi!”. “Nhưng…còn thầy!”. “Thầy là kẻ tu hành! Chùa là nơi để nghĩ đến việc thiện…Con chớ lo!”. “Thế còn cội mai?”. “Con mang theo… nhớ chôn cất thật kĩ… Chờ lúc yên bình rồi tính sau…”. “Con đa tạ thầy!”. “Mô Phật! Nhanh mà trốn đi…”.
            Chàng trai một lần nữa nhấc bổng ta rồi lần qua sườn núi, theo lối mòn giống như cố nhân đã leo, chàng dùng thanh kiếm đào một cái hố, rồi dặt nguyên cả cái chậu xuống, khỏa đất rồi xếp đá y như cũ. Đứng lặng đi một lát, rõ ràng chàng suy tính điều gì day dứt lắm. Chợt chàng quày quả quay trở lại lối vừa lên! Lẽ nào chàng trai trẻ bỏ mặc ta giữa chỏm đá khô cằn…?”.
            Chừng non nửa buổi, ta chợt nghe có tiếng người, xen tiếng binh khí chảng nhau chát chúa.Trời! Chàng trai trẻ ơi! Sao mà máu me đầm đìa thế kia! Và ai kia? Môt võ tướng, à chàng tráng sĩ năm nào đến vườn nhà tiểu thư!
            Tiếng chàng trai phẩn nộ: “ Ngươi quả tàn ác! Sư thầy có tội tình chi mà ngươi bắt trói?”. Tráng sĩ  bậc cười ha hả: “ Chứa chấp kẻ nghịch phản, há chẳng đáng tội chết?”. “Trong lòng thầy ta chẳng phải là tội đồ!. Trần Lãnh binh! Ông hãy thả sư thầy, đổi lại,ta sẽ đưa tay chịu trói…”. “ Ngươi chớ có đùa…Nay, mạng sống của ngươi chỉ còn trong gang tất nữa! Cái mà ta cần ngoài cái đầu của ngươi, là chậu mai…Ngươi giấu ở đâu?”. Chàng trai trẻ bật cười: “Thì ra Trần Lãnh binh cũng muốn chiếm lấy cái đẹp!”. Tráng sĩ sa sầm mặt, đoạn nói: “ Ta chỉ mang về dâng tặng tiểu thư…Mấy năm nay lúc nào nàng cũng u sầu, rầu rĩ…Ngươi không muốn tiểu thư vui vầy mà sống, rồi phải về nhà chồng à?”. “Hả? Nàng…?”. “ Chắc chắn nàng sẽ là lãnh binh phu nhân. Có khi tổng đốc phu nhân nữa chưa biết chừng…ha ha ha…”.
            Bất giác vẻ mặt chàng già đi trông thấy. “Được! Nếu đầu ta và chậu mai sẽ làm nàng vui thì còn gì bằng! Ta chấp nhận! Nhưng ngươi hãy thả sư thầy và hứa không đụng đến thầy!”. “Được!”. Trần Lãnh binh ngoắc tay hai viên phó tướng dặn nhỏ.
            Một trong hai viên phó tướng vội vàng trở xuống núi.
            Chàng trai ném thanh kiếm xuống khe đá sâu hun hút, rồi nói nhỏ đủ Trần Lãnh binh nghe: “ Ta giấu chậu mai giữa hai chỏm đá kia kìa!”. “Thế à!”. Chàng trai lẹ làng vút nhẹ qua khe. Trần Lãnh binh ngần ngừ nghi hoặc. “Qua đi chứ?”. Lãnh binh họ Trần cất tiếng cười khoái trá: “Ta thấy rồi! Ngươi quả là chính nhân quân tử! Ta sẽ qua tức thì…!”.
            Nói xong, Trần Lãnh binh tròng dây mang khẩu súng hỏa mai qua vai, tra thanh đoản đao vào vỏ rồi dợm chân lấy đà nhảy vút…Chợt, phía bên này chàng trai trẻ hét vang một tiếng, phóng người ngược hướng Trần Lãnh binh. Họ chập vào, rú lên một tiếng hãi hùng rồi cùng rơi xuống mất hút dưới vực…
*
*         *
            Tiếng rú hãi hùng trong giấc mộng đã khiến cho Thuần choàng tỉnh.Anh hoảng hốt chồm dậy, trán vã mồ hôi. Trời! Mộng thực hay hư ảo! Thuần dáo dác nhìn quanh quất.
            Nắng bàng bạc và mây, và núi đá cứ lung linh, huyền hoặc trong một ngày tiết Thanh minh…
                                                                                                            
(*) Thái Thượng ẩn giả-" Đáp nhân -thơ Đường .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét