Với
Thuần, thì dãy núi có nàng Vọng Phu ẵm con ngóng chồng hóa đá, có điều gì cứ ám
ảnh anh suốt mấy năm nay. Chả là, trong lần lang thang lục sục tìm cây canh-
một thứ đam mê và cũng là một việc kiếm thêm tiền mua thêm cây. Thêm chậu mà
khỏi cần phải xén vào mấy đồng lương còm cõi, xứng với những việc làm làng
nhàng mà một công chức nhì nhằng như anh được hưởng- chẳng hiểu sao, anh lại
phăm phăm một mình len lõi, luồn lách leo lút lên một ngọn núi chỉ có đá chồng
đá, chất ngất. Đá chất chồng không đều, tạo nên những hang hốc hun hút., cây
cối rậm rì, chen chúc với đá. Thuần nghĩ mệt trên một thớt đá rộng đến năm bảy
người nhìn nối tay nhau vẫn thừa. Anh thoải mái ngắm nhìn trời mây bảng lảng,
lâng lâng dõi theo từng chân núi lô xô chạy ùa ra đùa với lớp lớp sóng biển, và
biển cũng đáp lại bằng những nụ hôn vỗ về trắng xoá, bất tận.
Rồi
như có một linh cảm kì diệu nào chẳng rõ, Thuần ngoảnh về phía trái. Tức thì
lọt ngay vào mắt anh một dang thân cây “đổ” giữa khoảng trống hai tảng đá, ngọn
ngóc lên trong rất có “thế”. Thuần bật dậy, không quên dè chừng một vực đá rộng
chừng hai sải tay, sâu hoắm, ngăn cách thớt đá anh đứng với dáng cây vừa thấy.
Toát cả mồ hôi hột…Thuần mới lò dò vượt qua bên kia vực.Anh mới bàng hoàng khi
thấy cành thưa thớt vài bông hoa cuối mùa màu trắng ngọc. Phải leo lên một tảng
đá nữa,Thuần mới lần ra gốc cây sần sì, già cỗi. “ Tuyệt quá! Bạch mai!”. Anh
reo lên, tiếng dội vào vách đá âm âm. Cẩn trọng gấp đôi lúc thường, Thuần moi
từng lớp đất, cố bứng nguyên bộ rễ. Bỗng lộ dần dưới tay anh một mảnh sứ màu
lam ngọc. Ôi trời! không phaỉ một mảnh mà nguyên cả một chậu men cổ, chấm phá
cảnh sơn khê, với nhành mai gầy guộc và những dòng chữ Hán lả tả rơi như những
cành hoa trước làn gió xuân đùa cợt.
Một
cây mai thế cổ thụ, trồng trong chậu men cổ, dễ thời ngót trên trăm tuổi là
ít.Thật quý giá, thật kỳ bí!
Năm
đầu, cho mãi đến cuối giêng, chậu mai già mới nở lác đác trong vườn cảnh nhà
Thuần.
Năm sau, những phút giao thừa như có ma lực, làm nẩy dần từng chút một, cho đến giây cuối cùng thì cũng vừa vặn khai nở hoa đầu tiên. Mồng hai Tết nở thêm hai hoa. Cứ thế…đến khi khai hạ thì bông hoa cuối cùng cũng sắp tàn phai. Giới chơi đồ cổ, cây thế ngày nào cũng lai vãng, người sành điệu thâm trầm thưởng lãm, kẻ có dụng ý mua bán lại vờ vịt chê bai nhưng ngấm ngầm khơi gợi mua cho bằng được với giá hời nhất. Chẳng mấy chốc giá cây và chậu cứ leo vùn vụt. Đến nổi vợ Thuần phải nổi quạu, vì cứ thấy chồng lắc đầu cười trừ trước những cọc tiền mà một vài trùm bon-sai dúi vào tận tay.
Năm sau, những phút giao thừa như có ma lực, làm nẩy dần từng chút một, cho đến giây cuối cùng thì cũng vừa vặn khai nở hoa đầu tiên. Mồng hai Tết nở thêm hai hoa. Cứ thế…đến khi khai hạ thì bông hoa cuối cùng cũng sắp tàn phai. Giới chơi đồ cổ, cây thế ngày nào cũng lai vãng, người sành điệu thâm trầm thưởng lãm, kẻ có dụng ý mua bán lại vờ vịt chê bai nhưng ngấm ngầm khơi gợi mua cho bằng được với giá hời nhất. Chẳng mấy chốc giá cây và chậu cứ leo vùn vụt. Đến nổi vợ Thuần phải nổi quạu, vì cứ thấy chồng lắc đầu cười trừ trước những cọc tiền mà một vài trùm bon-sai dúi vào tận tay.
Nhưng
rồi…Chậu bạch mai đẹp lạ lùng và kỳ bí ấy vẫn cứ rời anh như một định mệnh. Đổi
lại nụ cười trở lại trên môi đứa con gái Thuần chẳng may bị bệnh hiểm nghèo,
nếu như không có món tiền mà một trùm bon-sai sốt sắng, lẹ tay ấn vào tay vợ Thuần.
…Năm
nay, đúng ngày tiết Thanh minh, Thuần lại nhằm hướng núi ấy leo lên.Gần hết
buổi sáng loanh hoanh, nghiêng ngó sục tìm, đến trưa anh mới đến đúng thớt đá năm
nào nhìn thấy cây bạch mai. Thuần với chiếc gùi đặt trên đá. Cả buổi sáng chẳng
đến nỗi công cốc: dù sao trong gùi cũng có vài cây ưng ý vừa sam, cần thăng,
bằng lăng và nhất là một cội ngâu già cằn cỗi.
Nắng
nhợt nhạt, thinh không lành lạnh. Núi và biển bớt nô đùa nhưng lại đằm thắm,
nồng nàn hơn ngày nào. Thuần ngó xuống phía đồng bằng, cảnh vật lờ mờ, u uẩn.
Nuốt
xong lát cơm chấm muối vừng cuối cùng, tu mấy ngụm nước, Thuần chụp cái mũ vải
lên mặt, định bụng ngủ một giấc.
Dường
như lúc này khói mây bảng lảng, nắng luễnh loãng và chợt sơn khê trầm lắng, Thuần lơ mơ nghe như tiếng ngâm nga: “Ngẫu
lai tùng thụ hạ. Cao trẩm thạch đầu miên, Sơn trung vô lịch nhật. Hàn tận bất
tri niên” (*) . Rồi nửa mơ, nửa tỉnh, Thuần nghe như là tiếng gọi.
“Cố
nhân!”. “Ai đó? Phải gọi tôi không?”. Như là mừng rỡ: “Ta là bạch mai già cỗi
mà cố nhân tương ngộ mười năm trước…”. “Ôi, là…bạch mai…ấy ư?”. Như có gì man
mác: “ Đúng rồi! Cố nhân quả chưa quên! Có điều…Cố nhân có biết…nay ta đã về
với cát bụi…”. “…Có nghĩa là…!”. Như là tiếng cười khà: “Cả đời phiêu bạt,
chứng kiến bao bể dâu, tan hợp…Kể ra cũng đủ lắm rồi…”.
Lặng
đi như có một uẩn khúc: “ Muốn nhờ cố nhân một việc…Chẳng hay?”. “Thưa! Dù khó
đến mấy… xin vẫn được nhận”. Như có cái gì hiền từ, độ lượng: “ Chớ vội vàng
hứa khi chưa biết việc nhận làm như thế nào…”. “ Thưa…”. Lặng một lát, lại hỏi:
“Có điều gì ám ảnh cố nhân?” Tuần vội xổ lòng:“Lão mai ơi! Mười năm nay… lúc
nào trong lòng kẻ hèn mạt này cũng ám ảnh, nuối tiếc. Bởi vì…cái đẹp diệu kì
biết có ngày nào tương ngộ một khi đánh mất " . Như có khoảng lặng trầm tư: “ Cố nhân muốn biết những gì thuộc về ta ư?”.
“Thưa vâng!”. “Chỉ ngại cố nhân không muốn nghe…!”. “Dù có phải nhọc nhằn tìm
kiếm khắp núi rừng này một khi tin rằng sẽ có cái đẹp luẩn quẩn đâu đó, huống chi
chỉ có một cái việc nghe để giải đi nỗi ám ảnh, dằn vặt trong lòng…”. “ Thế thì
được! Được đấy!”.
Mộng
thực hay chỉ là tâm tưởng? Thật khó mà phân biệt trong bảng lảng khói mây,
trong chút gió xao lá mơ hồ dệt nên câu chuyện…
2
Sau những ngày
hoan lạc dưới ánh nắng ấm áp và làn gió xuân hây hẩy, có một chiếc hạt từ cội
mai già hàng trăm năm, trăm tuổi rụng xuống triền dốc núi. Một cơn mưa nhỏ cũng
đủ cuốn chiếc hạt căn mẩy, đen chín mong, đọng lại trong một cái hốc, rồi bùn
đất lấp lên một lớp mỏng.Nắng mỗi ngày thêm ấm và đêm về cũng bớt đi rét mướt
để không lâu chiếc lá cựa quậy nảy mầm, rồi nhú lên khỏi mặt đất, đón lấy tia
nắng ban mai đầu tiên. Như muôn loài cây cỏ khác, từ chiếc hạt ấy, ta đã chào
đời và cũng tìm cho mình một chỗ dưới ánh mặt trời rực rỡ.
Mùa lại mùa
trôi qua; hết nắng hết mưa, rét tàn nhường cho cái nóng đến quắt queo cả núi đồi. Mặc, ta lớn lên, từng chút từng chút một.
Một
đêm gió mưa dữ dội, nước cuốn phăng phăng bao đất đá từ trên cao ào ào ập
xuống. khủng khiếp hơn, đất dưới chân ta bỗng rùng rục nức toác ra, thành một
vực sâu hoắm. Ta bật gốc chỏng chơ, ngọn lộn cắm xuống đáy vực. Đằng đẳng gồng
mình chịu đựng mọi thứ khắc nghiệt, thế rồi ta cũng “qua” được …à, bây giờ, con
người nói chữ như thế nào?”. “Thưa! Là…là “tồn tại! ". "À , ta tồn tại…”.
…Không
biết bao nhiêu mùa trôi qua, trên sườn núi xa xôi, cây bạch mai vẫn đổ lả thân
xuống vực nhưng ngọn thì cứng cỏi vươn lên.
Ngày
ấy…cũng giống như ngày tương ngộ cố nhân mười năm trước…
Lúc
ấy vãng chiều…
Liêu
xiêu rồi chỉ còn vương vấn vài sợi nắng vãi trên chỏm núi. Lạ lùng sao có tiếng
gì vừa cất lên. Chẳng phải nhộn nhạo líu lo, ríu rít của loài chim; tiếng rỉ
rả, nỉ non trong đất, trong lùm cây, bụi cỏ của dế, ve sầu; hoặc tiếng hú gọi
bầy, tiếng tác tìm bạn cùng những con thú đêm đêm… Tiếng của con người! Cây cỏ
quanh ta rầm rì bảo nhau “ Ôi! Quan Chánh sứ ơi! Một cội mai trắng đang nở kìa!
Đẹp làm sao!”. Giọng người trẻ xuýt xoa. “Đâu nào! À! Đẹp! Quả là đẹp!”. người
vừa đáp có mái đầu tưởng như vừa được những cánh hoa trắng rơi phủ kín, ánh mắt
buồn buồn chợt nảy lên: “ Ngày mai rời xa nước mà gặp mai nở giữa chốn biên ải
này, thật là điểm tốt! Điềm tốt!”. “Thưa…đúng thế…bẩm quan…”. Người già mỉm
cười rồi ôn tồn nói: “Cùng vãn cảnh, thưởng lãm cái đẹp tất ngươi phải xung
tụng phẩm hạnh chi cho nhọc!...”. Người trẻ cúi đầu nhỏ nhẹ: “Con tập bẩm trình
cho quen miệng với chức vị của thầy vừa được ban cử …”. “ Thôi! Hãy để đầu nhẹ nhõm
mà thưởng ngoạn…” Người trẻ vâng dạ, rồi say sưa ngắm từ cánh hoa mỏng manh cho
đến những chiếc rễ cội mai lồi lên sườn núi đá khô cằn. Những ngón tay của
chàng trai trẻ khẽ mân mê lớp vỏ sần sùi, lần theo dáng đổ, miệng không ngớt
trầm trồ. “Thầy ạ! Cái hố lở này chỉ liếm thêm ngang tay nữa thì cội mai bị vùi
lấp lâu rồi ạ!” . “ Ngươi cứ quen “ giả như, giả như”… Sao không nghĩ : chính
nhờ cái hố này cội mai đã có được dáng thế tuyệt đẹp này!”. “Thưa…Quả thầy dạy
chí lí!”.
Rồi
những sợi nắng vãi trên chỏm núi cũng bay biến mất, để nhường chỗ cho tấm khăn
voan mỏng mảnh sắp choàng lên. Người già chợt hỏi: “ Ngươi định mang cội mai về
kinh sư à?”. “ Chàng trai trẻ vội đáp: “ Thưa…con cũng có ý như thế thật! Chẳng
có gì qua được mắt thầy!...” Người già cười: “ Ta còn đoán ra… ngươi còn đem
cội mai tặng cho nàng tiểu thư họ Phạm nữa kia!...”. Chàng trai đỏ mặt, bối
rối. “Thưa…đúng ạ!”. “ Ta nghe nói…Phó Lãnh binh họ Trần cũng ngắm nghé có ý
dạm hỏi Phạm tiểu thư?”. “Con…cũng có biết ạ!”. “ Chà! Gay thật! Gay thật!
Không khéo giữa ngươi với Phó Lãnh binh họ Trần kia…”. Người già bỏ dở câu nói,
trầm ngâm một lát rồi bảo: “ Được ngắm mai nở trong giá rét chốn biên cương hiu
quạnh dù sao cũng thích hơn chốn viên gia…Nhưng để có món gì tặng cho Phạm tiểu
thư thì ngươi cứ bứng mà mang về!...”. Chàng trai trẻ hớn hở: “Con sẽ làm theo ý thầy!”… Người già ngẫm nghĩ một điều gì đó, rồi nói: “À, chuyến này đi…cố ghé
qua Giang Tây. Một cái chậu men Giang tây sẽ tôn cội mai lên bội phần!”. “Trời!
Thế thì còn gì bằng! Thưa… con có ý thô thiển này nữa… Trình thầy có được không
ạ?”. “Thì cứ nói…”. “Thầy ạ! Trên cái chậu ấy mà có bút tích thi họa đề tặng
của thầy…” Người già bật cười: “ Ta hiểu ý ngươi…Nhưng việc đó chính tay ngươi
làm mới đủ tình đạt ý!”… “Chính tay con làm ư?!”…
*
* *
Khỏi
phải nói…ta đau đớn biết nhường nào khi gốc rễ bị đào tróc khỏi núi non, mây
gió miền biên ải, nhét vào một cái chậu chật hẹp, tù túng. Nhưng rồi ta cũng
bớt chạnh lòng khi được thầy trò chăm chút, nâng niu từng chiếc lá non vừa
thay. Ròng rã nửa năm ,trăng tròn lại khuyết, đoàn người đi sứ mới về đến kinh đô.
Chàng trai trẻ đem ta về nơi góc vườn tĩnh lặng . Nơi đây chẳng thấy đâu núi non
trùng điệp , chỉ thấp thoáng xa xa là dòng sông lững lờ và xa chút nữa hiện lên
thành quách, đền đài.
Rối
thêm mấy mùa trăng tròn lại khuyết, một bữa, chàng trai đem ta đến một hoa viên
có biết bao kỳ hoa dị thảo, có hồ nước trong leo lẻo, chim hót líu lo. Thướt tha,e lệ
có một người con gái cùng sánh đôi với chàng trai đến gần ta: “ Chàng nói…cội
mai này mang từ ải Bắc về tặng thiếp?”. “Vâng! Tiểu thư đừng chối từ đấy”. “
Ôi! Thiếp có gì xứng đáng đâu mà được chàng tặng cội mai quý?”. “ Những gì đẹp
nhất ẩn chứa trong cội mai này đều xứng hết!”. “Chàng quá khen! À, hình như thủ
bút…lại cả tranh vẽ nữa…của chàng à?!”. “Cũng nhờ thầy gọi…nên ta mạnh dạn thử
trước khi nung…Hôm ở Giang Tô ấy mà!...” Ánh mắt tiểu thư lộ vẻ chăm chú khi
đọc những dòng chữ lả tả như hoa rơi: “ Chàng…chàng…bốc thiếp lên cao hơn cả
trời xanh?! Không! Thế này là không ổn…Không ổn”. “Ta nghĩ sao ghi vậy! Có gì
là không ổn?”. Nét mặt người con gái xúc động: “ Thiếp…như chàng biết…bao năm
rồi…rất thương…rất quí…chàng! Nhưng…cũng lo ngày, lo đem tính khí của chàng…sẽ
có lúc gây cho chàng nhiều phiền lụy!”. “Nàng quá lo xa!”. “Nhưng…giả như chàng
đánh mất đi cái dáng ngẩn cao đầu như cội mai này thì thiếp…thiếp…”. Chàng trai
sững sờ hỏi: “… Thì nàng…?”. “…Thì trong lòng thiếp sẽ phai nhạt dần bóng của
chàng!”. “Ôi! Tiểu thư!”…
…Trước
khi ra về, chàng se sẽ mân mê vài chiếc lá non còn mềm lả, rồi nói: “Từ nay…lão
mai bầu bạn với tiểu thư! Tiểu thư sẽ chăm chút lão mai gấp mấy lần ta! Ấy,
đừng sầu mà khô gầy, lìa xa nhân thế!”.
Tiểu
thư tiễn chàng theo lối quanh ra khỏi hoa viên… Kể từ buổi ấy…chẳng có ngày nào
mà tiểu thư không đến ngắm ta, chuyện trò với ta vài lần…
Một
chiều… trong lúc miên man trong cõi mông lung, tiểu thư nào biết có một người
đàn ông vừa đến.Chẳng phải chàng trai ấy đâu.Một tráng sĩ…
“Tiểu
thư! Phạm tiểu thư!”. “À! Xin chào! Phó Lãnh binh đến thăm tôi?”. “Có chút việc
đã trình báo cho thân phụ nàng biết! Chuyện dân tình, giặc giã thôi mà…: Ôi!
Tiểu thư đang ngắm cây à? Chà chà! Một chậu mai…Cho ta coi thử nào! Được! Có
điều dáng cây ngang tàng, ngạo nghễ thái quá!Chậu có cả thi họa nữa kìa?! Lần
trước đến , ta có thấy đâu!”. “Vâng! Có người vừa mang tặng!?. “Cho cụ Thượng?”.
“Không! Cho riêng thiếp!”. Ánh mắt tráng sĩ chợt tối sầm. “Ra thế! Để ta xem
người tặng viết gì? Hừ! Xa nước…nhớ da diết…nhớ ai? À, nhớ đàn bà, con gái, nhớ
nàng…ái chà! Lòng trung quân ái quốc ở đâu mà chỉ rặt nhớ tới bóng hình phụ nữ
…Lại nữa…mọi thứ đều chẳng có nghĩa lí gì nếu như không có…hả? Không có tiểu
thư trong đời ta…Thế thì sơn hà xã tắc, Hoàng thượng, triều đình cũng đều vô
nghĩa hay sao? Còn dòng này…ám chỉ gì đây…muốn làm vầng nhật nguyệt để…ủ ấm
tiểu thư…Hà, muốn thay vua nữa đấy!”. Phạm tiểu thư kêu lên “ Quan Phó Lãnh
binh! Không phải vậy đâu! Xin ngài chớ có nghĩ sai…”. Tráng sĩ bậc cười khô
khốc: “ Tiểu thư đang dung chứa một cái mầm phản loạn này đấy!”. “Trời, ngài
nói gì vậy!”. " Hứ !..." . “Ngài…ngài Phó Lãnh binh! Đừng bốc lửa bỏ vào tay người…”.
Tráng
sĩ đi xa rồi nhưng tiếng cười vẫn còn văng vẳng rờn rợn đâu đây...
*
* *
Thật
buồn thương cho những ngày tháng kế tiếp. Ta gắng gượng, chống chọi với tiết
trời, mưa nắng đất kinh sư. Chẳng biết việc lành, việc dữ gì xẩy ra mà tiểu thư
sai người mang ta giấu biệt vào một vườn hoang cỏ rậm, cách gia viên không
xa.Thi thoảng tiểu thư lại đến với gương mặt âu sầu. Có lần tiểu thư sụt sùi
khóc, giọt lệ nóng hôi hổi rớt thấm lên mặt lá khiến ta khẽ rùng mình xót xa
cho số phận của nàng.
Một
đêm ngâu ,ta chập chờn tắm mình trong làn mưa rỉ rích. Chợt có tiếng tiểu thư: “
Chàng ơi! Thiếp giấu chậu mai đây này!”. “Trời! Lão mai! Vì ta mà phận cỏ cây
cũng cơ khổ theo…”. Lâu lắm ta mới đón nhận bàn tay chàng run run rờ lên thân,
lên lá. Hai bóng người lặng lẽ ngồi bên , rồi ta nghe họ rì rầm… “Lúc nàng hỏi,
vội quá chưa kịp đáp. Nàng biết không, ta bị lột tuốt tuồn tuột những chức vụ
vốn nhỏ nhoi, chỉ còn là một tên lính thú dưới quyền cai quảngcủa Phó Lãnh
binh họ Trần. Mấy tháng qua, Phó Lãnh binh được lệnh dẫn quân đi tiểu trừ đám
giặc cướp sơn man. Lần nào cũng đẩy ta đi đầu , hứng chịu bao lần đá dội từ núi
cao xuống, chông nhọn dưới đất hắt lên. Những việc cỏn con này đối với ta có sá
gì…
Cách
đây ít hôm…Phó Lãnh binh dẫn quân vây đánh vào làng sơn cước, gông cổ mấy chục
mống già trẻ, gái trai rồi gán bừa họ là giặc cỏ, phải giết sạch. Ta biết họ là
dân lành vô tội, chẳng phải thảo khấu, nghịch tặc. Ta lên tiếng khuyên can. Phó Lãnh binh cười ngạo mạn, lệnh đích danh ta phải làm việc là giết hại từng người
một, vào ngày hôm sau. Nửa đêm, ta lẻn vào, cắt bỏ dây trói, xua họ trốn sâu
vào rừng núi. Rồi một mình, ta nhảy lên ngựa, ròng rã mười ngày, trốn chạy về
được đến đây…” Tiểu thư nghẹn ngào: “Trời! Chàng ơi!”. “Gặp được tiểu thư … thế
là ta mãn nguyện lắm rồi! Với triều đình, giờ đây ta là kẻ phản nghịch, khó
tránh khỏi cái chết…”. “Chàng! Chàng đừng nói đến cái chết…Thiếp sợ…”.
Lặng
đi một lát, chàng khẽ nói: “Đối với tên bay, đạn lạc…ta nào có mảy may chớp
mắt! Nhưng ta sợ thân phụ, rồi đến lượt nàng sẽ liên lụy…cũng may là nàng nhanh
trí, giấu chậu mai…kẻ gian tà nhìn cái đẹp cũng hóa xấu…”. “Thiếp hiểu ý chàng
lắm lắm! Lẽ nào…chàng lại tiếp tục bỏ thiếp trốn đi một mình mà không cho thiết
cùng đi…”.
Chàng
trai nghiêm giọng: “Không!”. Tiểu thư òa khóc: “ Sống chết gì…thiếp cũng theo
chàng!”. “Nín đi nào! Nếu cạn nghĩ theo ta thì chuyện ắt vỡ lỡ, kéo theo hai
gia tộc cùng chết đấy…”.
Vẫn
rỉ rích tiếng mưa, vẫn rỉ rích tiếng dế trong vườn đêm rậm rịt. “Ta đem cả chậu
mai này theo!”. “Không! Hãy để lại cho thiếp…!”. “Ta nghĩ kĩ rồi! nếu vứt bỏ
thì không lòng nào! Để cho nàng chăm sóc thì chẳng khác nào rước cái họa lớn
cho nàng!”.
…Tiếng
gà xao xác gáy đâu từ phía bên kia sông vọng lại. “ Chàng ơi! Hãy để…cho
thiếp…”. “ Tiểu thư…”. “Chàng…”…
Có
tiếng người í ới gọi. Chàng trai bừng tỉnh: “ Tiểu thư! Ta…ta đi…!”. “Chàng ơi!
Thiếp sẽ cố giữ…giọt máu của chàng…gửi cho thiếp!”.
3
Trên
yên ngựa và trong vòng tay chàng trai, ta lại tiếp tục dong ruổi trên bao dặm
đường, đồng đất xa lạ, mờ mịt. Chàng tránh xa đường cái quan; tránh gặp con
người, lẩn lút băng qua đèo cao, sông vắng. Trăng tròn lại khuyết, cho đến một
ngày chàng mới dừng chân lại xứ này.
“Bạch
thầy! Xin bạch thầy cho con nương nhờ nơi cửa Phật!. Chốn trần hiện con gặp
hoạn nạn…”. Chàng trai cung kính thưa với vị sư già trụ trì ngôi chùa cổ ẩn
mình nơi lưng chừng núi. “Nam
mô A Di Đà Phật! Cửa thiền luôn rộng mở cho bất kì ai, dù người đó mới vừa gây
ra điều ác ngay ngoài cổng chùa…”. Chàng trai mừng rỡ: “ Lão mai ơi! Thế là từ
nay…lão mai đã có chốn nương thân yên ổn rồi!”. “Thí chủ! Xin có lời khen…Cội
mai thật trác tuyệt! Phải chăng…phiền lụy mang đến cho thí chủ có một phần do
cội mai này…?”. “ Thưa! Bạch thầy đoán đúng…”.
Và
chàng đã kể ra những gì vừa trải qua…
Từ
ấy…ta được ở trong chùa tĩnh mịch, bầu bạn với lão tùng khắc khổ, mực thước; với
lão đại sù sì, u nần mà thả hương thơm ngan ngát cả lưng chừng đồi, rồi còn rải
xuống sân thảm hoa trắng vàng, đến nỗi tiếng chuông chùa cứ lẩn vẩn, chẳng muốn
rời xa.
Sau
những khắc giờ tụng kinh, niệm Phật, chàng trai hăm hở làm mọi việc lặt vặt
trong chùa, như cố ý quên một nỗi niềm sâu kín trong lòng. Thi thoảng chàng lại
đến ngồi gần ta, khẽ thì thầm với ta những lời buồn thảm.
“Lão
mai ơi! Ta nhớ tiểu thư lắm lắm…Ta không biết chốn kinh kỳ…bây giờ nàng ra sao?
Mong nàng…hãy chóng quên ta…Không biết bao giờ…nàng sẽ gặp lại lão mai…”. Chợt
giọng chàng có vẻ vui ra chút ít: “À…, sư thầy có lời khen lão mai…nở hoa đúng
Tết lắm đấy! Từ ải Bắc nghìn dặm lưu lạc đến đây…mà vẫn trổ hoa đẹp đến mức làm
ngơ ngẩn cả bao khách vãn chùa...Đấy! Có người nấn ná cả buổi mà vẫn không
chịu xuống núi…”. “ Mô Phật! Cái đẹp là phúc… nhưng cũng có khi là họa! Phúc
họa..họa phúc thật khôn lường…”. “Bạch thầy…”.
…Rồi
cái ngày ấy…, cái ngày phúc đã biến thành họa. “Quan quân triều đình…hiện vây
kín chân núi…con hãy trốn nhanh đi!”. “Nhưng…còn thầy!”. “Thầy là kẻ tu hành!
Chùa là nơi để nghĩ đến việc thiện…Con chớ lo!”. “Thế còn cội mai?”. “Con mang
theo… nhớ chôn cất thật kĩ… Chờ lúc yên bình rồi tính sau…”. “Con đa tạ thầy!”.
“Mô Phật! Nhanh mà trốn đi…”.
Chàng
trai một lần nữa nhấc bổng ta rồi lần qua sườn núi, theo lối mòn giống như cố
nhân đã leo, chàng dùng thanh kiếm đào một cái hố, rồi dặt nguyên cả cái chậu
xuống, khỏa đất rồi xếp đá y như cũ. Đứng lặng đi một lát, rõ ràng chàng suy
tính điều gì day dứt lắm. Chợt chàng quày quả quay trở lại lối vừa lên! Lẽ nào
chàng trai trẻ bỏ mặc ta giữa chỏm đá khô cằn…?”.
Chừng
non nửa buổi, ta chợt nghe có tiếng người, xen tiếng binh khí chảng nhau chát
chúa.Trời! Chàng trai trẻ ơi! Sao mà máu me đầm đìa thế kia! Và ai kia? Môt võ
tướng, à chàng tráng sĩ năm nào đến vườn nhà tiểu thư!
Tiếng
chàng trai phẩn nộ: “ Ngươi quả tàn ác! Sư thầy có tội tình chi mà ngươi bắt
trói?”. Tráng sĩ bậc cười ha hả: “ Chứa
chấp kẻ nghịch phản, há chẳng đáng tội chết?”. “Trong lòng thầy ta chẳng phải
là tội đồ!. Trần Lãnh binh! Ông hãy thả sư thầy, đổi lại,ta sẽ đưa tay chịu
trói…”. “ Ngươi chớ có đùa…Nay, mạng sống của ngươi chỉ còn trong gang tất nữa!
Cái mà ta cần ngoài cái đầu của ngươi, là chậu mai…Ngươi giấu ở đâu?”. Chàng
trai trẻ bật cười: “Thì ra Trần Lãnh binh cũng muốn chiếm lấy cái đẹp!”. Tráng
sĩ sa sầm mặt, đoạn nói: “ Ta chỉ mang về dâng tặng tiểu thư…Mấy năm nay lúc
nào nàng cũng u sầu, rầu rĩ…Ngươi không muốn tiểu thư vui vầy mà sống, rồi phải
về nhà chồng à?”. “Hả? Nàng…?”. “ Chắc chắn nàng sẽ là lãnh binh phu nhân. Có
khi tổng đốc phu nhân nữa chưa biết chừng…ha ha ha…”.
Bất
giác vẻ mặt chàng già đi trông thấy. “Được! Nếu đầu ta và chậu mai sẽ làm nàng
vui thì còn gì bằng! Ta chấp nhận! Nhưng ngươi hãy thả sư thầy và hứa không
đụng đến thầy!”. “Được!”. Trần Lãnh binh ngoắc tay hai viên phó tướng dặn nhỏ.
Một
trong hai viên phó tướng vội vàng trở xuống núi.
Chàng
trai ném thanh kiếm xuống khe đá sâu hun hút, rồi nói nhỏ đủ Trần Lãnh binh
nghe: “ Ta giấu chậu mai giữa hai chỏm đá kia kìa!”. “Thế à!”. Chàng trai lẹ
làng vút nhẹ qua khe. Trần Lãnh binh ngần ngừ nghi hoặc. “Qua đi chứ?”. Lãnh
binh họ Trần cất tiếng cười khoái trá: “Ta thấy rồi! Ngươi quả là chính nhân
quân tử! Ta sẽ qua tức thì…!”.
Nói
xong, Trần Lãnh binh tròng dây mang khẩu súng hỏa mai qua vai, tra thanh đoản
đao vào vỏ rồi dợm chân lấy đà nhảy vút…Chợt, phía bên này chàng trai trẻ hét
vang một tiếng, phóng người ngược hướng Trần Lãnh binh. Họ chập vào, rú lên một
tiếng hãi hùng rồi cùng rơi xuống mất hút dưới vực…
*
* *
Tiếng rú hãi hùng trong giấc mộng đã
khiến cho Thuần choàng tỉnh.Anh hoảng hốt chồm dậy, trán vã mồ hôi. Trời! Mộng
thực hay hư ảo! Thuần dáo dác nhìn quanh quất.
Nắng bàng bạc và mây, và núi đá cứ
lung linh, huyền hoặc trong một ngày tiết Thanh minh…
(*) Thái Thượng ẩn giả-" Đáp nhân -thơ Đường .

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét